Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký Ức DHYD. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký Ức DHYD. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

Repost: Cổng trường Y qua các thời đại



Hình chụp năm 2020
Năm của Coronovirus 






Bắt đầu năm 2000, tên trường đặt trên bảng đá đỏ đậm
" Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh "
Hình chụp năm 2009





Chụp năm 1997
" Trường Đại Học Y-Dược Thành Phố Hồ Chí Minh -
University of Medicine and Pharmacy of Ho Chi Minh City"




Năm 1994
" Bộ Y tế - Trường Đại Học Y-Dược Thành Phố Hồ Chí Minh - Khoa Y"
Chử xanh
Photo courtesy: BS Hồ Văn Hiền 





1979-1985
" Bộ Y tế - Trường Đại Học Y-Dược Thành Phố Hồ Chí Minh - Khoa Y"
Chử đỏ

Photo courtesy: Vũ Hải Sơn



Năm 1966-1975
"Bộ Đại Học Sài Gòn - Trung Tâm Giáo Dục Y- Khoa"
Trên đường Hồng Bàng
 Photo courtesy: Jim Brown Collection, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University


Thứ Hai, 9 tháng 9, 2019

Nhớ Bạn - Video from Anh Minh


Nhớ bạn, nhân dịp họp mặt 40 năm lớp Y79Đ 
Video: Anh Minh 


"...Sao tình yêu còn dâng trong mắt em
Cho ta nhớ một thời trai trẻ
Sao mùa thu còn vương trong mắt em
Cho ta tiếc một thời xa đến thế.."

Bài hát: Ngọn Nến
Nhạc và lời: Phú Quang


Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Tặng các bạn Y79Đ - from Anh Minh

Tặng các bạn Y79Đ 
Video: Anh Minh

"..Bình yên để nắng soi môi thơm, 
bình yên ta mừng..
 Như từ bao la ta ra đời một kiếp nữa, 
như từ trong nhau lớn lên khôn lên cùng nhau 
Như 1 câu hát ứa ra từ tim, 
tặng nhau nhé tim nghe hồn nhiên 
để quên hết khó khăn chi lìa.."

Bài hát: Bình Yên
Nhạc và lời: Quốc Bảo


Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

Tặng các bạn Y79ABCDĐE- from Anh Minh


Tặng các bạn Y79ABCDĐE- 
Video: Anh Minh 

"..Cánh phượng hồng ngẩn ngơ 
Mùa hè đến trường khắc nỗi nhớ lên cây 
Và mùa sau biết có còn gặp lại 
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay.."

Bài hát: Phượng Hồng
Nhạc: Vũ Hoàng
Lời: thơ Đỗ Trung Quân 




Chiếc Xe Đạp

Bài hát: Xe Đạp Ơi
Nhạc và lời:  Ngọc Lễ
-----
Nhớ khi xưa anh chở em,
Trên chiếc xe đạp cũ,
Áo ướt đẫm mồ hôi những trưa hè.
Nhớ khi xưa bao mộng mơ,
Trên chiếc xe đạp cũ,
Dưới cơn mưa cùng nhau dắt qua cầụ

Xe đạp ơi, đã xa rồi còn đâụ
Mối tình thơ, thoáng như một giấc mợ
Xe đạp ơi, những vất vả ngày ấỵ
Cho lòng tôi, nhớ thương hoài chẳng nguôị
 Quay đều quay đều quay đều,
Mối tình ngày xưa yêu dấụ
Quay đều quay đều quay đều,
Nhớ hoài những vòng xẹ
Quay đều quay đều quay đều,
Mối tình nghèo đơn sơ quá.
Quay đều quay đều quay đều,
Thương hoài những vòng xe

Nhớ khi xưa anh chở em,
Trên chiếc xe đạp cũ,
Dưới trăng khuya cùng trao chiếc hôn đầụ
 Nhớ khi xưa bao mộng mơ,
Trên chiếc xe đạp cũ,
Ước mong sao tình yêu mãi không rờị

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (Phi Ngọ)


Đây là câu chuyện của một người bạn kể lại…N chép lại gởi các bạn đọc như những kỷ niệm thời sinh viên (xin phép được giấu tên tác giả, nhưng nếu bạn gái nào thấy tương tự, thì tự sướng nhé…)

*

Chuyện xảy ra vào năm thứ 4 y khoa, hình như vào mùa khô. Khi đó nhóm tụi này đi thực tập ở nhi khoa, và thật may mắn là bệnh viện Nhi đồng II. Một con đường rất đẹp đến bệnh viện. Một khuôn viên bệnh viện rất đẹp với những hang me cổ thụ, chiều chiều những chiếc lá me mỏng may bay trong gió thật là lãng mạn. Cũng vào thời đó mình đang để ý đến một cô bạn cùng lớp và hình như nàng cũng…không biết có đúng không?. Được biết nàng xin chuyển sang đi thực tập cùng nhóm này (do lý do gia đình…như nàng nói) mình mừng đến khó tả.

Những buổi tối đi trực, cái mệt mỏi như tan biến khi trong giây phút nghỉ ngơi cả hai thong thả lang thang dưới bóng me, dưới ánh trăng, kể nhau nghe về những bài học, những ca bệnh khó, về ước muốn sau này…cảm giác khoảng cách giũa hai đứa đang dần dần thu hẹp lại làm mình cứ tưởng như đang mơ vậy…

Một lần, buổi trưa, từ bệnh viện chạy về trường để học chiều. Đang thong thả vừa chạy vừa trò chuyện trên đường, bất chợt nàng nói; “mình thấy các anh chị chạy chung thường để tay lên tay nhau, mình làm thử nha…” và bàn tay của nàng đặt lên tay mình…như một luồng điện lan khắp cơ thể, tay chân mình như cứng lại và hình như nàng cũng vậy…cả hai cứ để cho xe trôi đi..cho đến xe hết “trớn” mới bàng hoàng buông tay nhau ra, không dám nói với nhau điều gì…

Rồi một buổi chiều, cả bọn hẹn nhau đến trực sớm. Khi mình đến nơi trong phòng trực chỉ có một mình nàng, nàng đang đọc một cuốn sách và muốn chỉ cho mình một đoạn hay…thật vô tình khi mình đặt tay xuống, lại để trọn trên bàn tay của nàng….hai đứa cứ lặng lẽ nhìn nhau…không gian như dừng lại…cho đến khi nàng ngước lên nói “bạn có thể ra ngoài được không…mình không thể chịu được nữa rồi..”, như một cái máy, mình lặng lẽ ra ngoài…mang theo tất cả những điều câm nín mà không bao giờ còn cơ hội để thổ lộ nữa…

Cuộc đời cứ tất bật trôi đi, guồng của cuộc sống đưa chúng mình cứ xa dần. nhưng mỗi lần đi qua bệnh viện Nhi đồng II, lòng lại bồi hồi nhớ về một chuyện tình thời trong sang và non nớt, một chút tiếc nuối…khi không biết “nhìn vào mắt em”…nhưng lại thỏa mãn rằng: “tình chỉ đẹp khi…”


Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

Y79Đ - Khuôn Viên Trường

Hoàng Lan gởi hình chụp trong khuôn viên trường. Các bạn có nhớ năm nào không? 1983, 1984?














Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

Y79Đ tại Dinh Độc Lập

Hoàng Lan gởi hình chụp tại dinh Độc Lập, có thầy chủ nhiệm Trần Bình Trọng. Các bạn có nhận ra hết mọi người trong hình không? Các bạn có nhớ năm nào không? 1983, 1984?



Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Lịch Sử Trường Y Khoa trước 1975

Nhờ một người bạn mách nước, mình tìm thấy tấm hình trường Y chụp trước 1975 này.  Cổng trường ghi: "Bộ Đại Học Sài Gòn - Trung Tâm Giáo Dục Y- Khoa". Nhìn khang trang, sáng sủa, bề thế quá. Chắc tại không có nhiều cây trồng lung tung, không có nhà xây cất thêm, cũng không có bảng hiệu chắn ngang ngay  cổng  làm bận mắt
Đăng lên đây cho các bạn cùng xem

(ảnh trích từ otofun.net)


(Lịch sử trích từ ykhoasaigon.com)
Trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn được thành lập vào năm 1946 tại Sài Gòn, trong thời gian của chiến tranh Đệ Nhị Thế Chiến, với tên trường là Faculté de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, Section de Saigon, thời đó được coi là như một chi nhánh của Trường Thuốc Hà Nội ( Ecole de Médecine et de Pharmacie de Plein Exercise de l'Indochine, gọi tắt là Ecole de Médecine de Hanoi ). Cho tới thập niên 1940, VN chỉ có một trường Y duy nhất đó là YK Đại Học Hà Nội.

Trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn được đặt tại số 28 đường Testard ( sau đổi tên là đường Trần Quý Cáp, nay là đường Võ Văn Tần ). Nơi đó là biệt thự của bà BS Henriette Bùi, con của BS Bùi Quang Chiêu. Trường là một biệt thự hai tầng: tầng trên làm văn phòng Khoa Trưởng, phòng Hội Đồng Giáo Sư và cũng là nơi các sinh viên trình luận án - tầng dưới dành cho văn phòng hành chánh, phòng hội và thư viện - đằng sau là khu vườn trống, mấy năm sau xây thêm giảng đường. Hai giảng đường lớn được xây hai bên và 4 giảng đường nhỏ ở giửa xếp theo hình chử U.

Khoa trưởng của cả hai trường thời bấy giờ là Giáo Sư Huard, Giáo Sư Daléas làm Phó khoa trưởng kiêm phụ trách trường YKĐHSG nên cũng có thể coi là vị khoa trưởng đầu tiên của trường YKĐHSG.

Niên khóa đầu 1946-1947 chỉ có khoảng 12 người cho tất cả các lớp. Niên khóa 1947-1948 có 32 người. Niên khóa 1948-1949 tăng lên tới trên 80 người. Các lớp học được giảng dạy tại trường và tại các bệnh viện. Giáo sư của trường lúc ban đầu chỉ có 2 người, nên đã dùng khả năng giảng huấn của các BS Quân y Pháp và các BS VN ở SG, niên khóa 1948-1949 có tới 10 GS trong đó có GS Massias (Nội Khoa) ở Hà Nội vào và GS Trần Quang Đệ (Ngoại Khoa) từ Pháp về.

Chương trình giảng dạy theo khuôn chương trình của y khoa Pháp, dài 6 năm. Hai năm đầu gồm các môn căn bản: cơ thể học, mô học, sinh hóa, sinh lý, và triệu chứng học. Năm thứ ba và năm thứ tư gồm các môn: cơ thể bệnh lý và bệnh lý nội ngoại khoa, và thực tập tại các BV về nội khoa và ngoại khoa. Năm thứ năm và thứ sáu gồm các môn bệnh lý chuyên môn như nhi khoa, sản phụ khoa, và trị liệu pháp, và thực tập tại các BV. Cuối năm thứ sáu thi Bệnh lý và chuẩn bị luận án.

Lý thuyết và thực tập cho các môn căn bản được giảng dạy tại nhiều nơi như: Vi Ký sinh trùng: Viện Pasteur, Sinh Hóa: phòng thí nghiệm BV Đô Thành, Mô học và Cơ thể bệnh lý: quân y viện Coste ( BV của quân đội Pháp, sau này thành trường nữ trung học Trưng Vương), Cơ thể học: BV Chợ Rẫy. Các BV thực tập gồm: BV Grall, BV Chợ Rẫy (Nội, Ngoại, Tai Mũi Họng, Nhãn khoa), BV Đô Thành (Nội, Ngoại, Cấp Cứu, Tai Mũi Họng), BV Chợ Quán (Tâm Thần, Truyền Nhiễm), Bảo sanh viện Từ Dũ, Viện Bài Trừ Hoa Liễu.

Khóa YK ra trường đầu tiên vào năm 1947, có 7 sinh viên trình luận án đó là các BS: Pierre Boucheron, Trần Đình Đệ, Lê Văn Hùng, Trần Minh Mẫn, A. Saint Mieux, Lê Văn Thuấn và Nguyễn Văn Thọ. Số BS ra trường hằng năm cho cả hai trường SG và HN tính đến năm 1954 như sau: 1947: 7-4 ; 1948: 10-9 ; 1949: 5-7 ; 1950: 4-14 ; 1951: 4-1 ; 1952: 13-54 ; 1953: 3-5 ; 1954: 11-13. Số BS ra trường nhiều ít do ảnh hưởng của chiến tranh Đông Dương và tình hình chính trị bất ổn của thời đó.

Năm 1954, hiệp định Genève được ký kết, đất nước tạm chia đôi bởi vĩ tuyến 17, và dân chúng hai miền có 3 tháng thời gian để di chuyển qua miền mình lựa chọn, ra Bắc hoặc vào Nam. Theo đó, đa số các GS trong Ban Giảng Huấn và 2/3 sinh viên YK đã vào Nam, do vậy số nhân viên giảng huấn và SV của trường YKĐHSG đã tăng lên gấp bội.

Do yêu cầu, một số cơ sở Y khoa được xây cất thêm tại Sài Gòn.
BV Bình Dân được hoàn thành năm 1955, do sự đóng góp của các nhà hảo tâm, đã được trao cho trường ĐHYKSG để trở thành khu Giải Phẩu B do GS Phạm Biểu Tâm điều hành cùng với một số nhân viên của BV Phủ Doãn ở Hà Nội vào. Sau đó BV được trang bị thêm cho các khu Nhãn khoa, Tai Mũi Họng, Niệu khoa, Bì phu và Ung thư.
BV Chợ Rẫy được đổi là khu Giải Phẩu A do GS Trần Quang Đệ điều hành.
BV Nhi Đồng được xây cất và hoàn thành năm 1956 với sự giúp đở của cơ quan UNESCO.
Cơ Thể Học Viện trên đường Trần Hoàng Quân ( nay là đường Nguyễn Chí Thanh ) do GS Nguyễn Hữu điều hành từ năm 1956.
BV Nguyễn Văn Học được mở ra năm 1967, gồm các bộ môn Nội, Ngoại, Sản, Nhi do Ban giảng huấn trường YKĐHSG đảm nhiệm.

Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa Sài Gòn, được khởi đầu xây cất năm 1963 và hoàn tất năm 1966, với tổn phí 2 triệu rưởi mỹ kim, một nửa do chính phủ VN đài thọ, một nửa do chính phủ Mỹ viện trợ. Khu đất của trường YKSG trước khi xây cất là Tòa Bố, tọa lạc trên đường Hồng Bàng. Trường gồm hai cơ cấu kiến trúc lớn 4 tầng, nối liền bằng một hành lang, tạo thành hình chử H. Tầng trệt một bên là văn phòng trường Y, một bên là văn phòng trường Nha, cùng với một số giảng đường nhỏ và phòng họp. Các tầng trên dành cho các bộ môn: Cơ thể học, Sinh lý học, Cơ thể bệnh lý, Giải phẫu thực nghiệm, Mô học, Vi ký sinh trùng, Sinh hóa học. Một Đại giảng đường 300 chỗ, một thư viện, và một quán ăn cho SV nằm ở giửa hai cơ cấu trên. Quán ăn do các nữ tu dòng Mến Thánh Giá điều hành và đã cung cấp cho SV những bữa ăn ngon lành với giá rẻ. Trường YKĐHSG chính thức dọn vào vào tháng 6 năm 1966.

Trước năm 1945, VN chỉ có một đại học duy nhất đó là trường Đại Học Đông Dương (Université de l'Indochine) tại Hà nội do chính quyền bảo hộ Pháp điều hành. Một thỏa hiệp văn hóa giữa Pháp và VN ký ngày 30/12/1949 đổi tên trường lại là trường Đại học Hà Nội, do hai chính phủ Pháp Việt điều hành chung. Trường Đại học Hà Nội có hai trung tâm, một ở HN, một ở SG. Sau năm 1954, tại SG hai trung tâm sát nhập thành một bao gồm các phân khoa: Luật, Y Dược, Văn Khoa, Khoa học, Kiến trúc. Đến 1955, trường Đại học Hà Nội trở thành Đại học Quốc Gia VN, do chính phủ VN điều hành. Tới năm 1957, khi trường Đại học Huế mở cửa thì Đại học Quốc Gia đổi tên là Đại học Sài Gòn. Đại học Y Dược được chia làm hai phân khoa riêng biệt, Y và Dược, vào tháng 8 năm 1961. Năm 1963, bộ môn khẩu xoang tách rời khỏi Y khoa và trở thành Đại học Nha khoa. Khoa trưởng Dược khoa đầu tiên là GS Nguyễn Vĩnh Niên, và Khoa trưởng Nha khoa là GS Trịnh Văn Tuất.

Niên khóa 1954-1955, năm Y1 và Y2 có khoảng 70-80 SV cho mỗi lớp. SV đại học chỉ cần có một trong những bằng dự bị như PCB ( Physique, Chimie, Biologie ), SPCN ( Sciences, Physiques, Chimiques et Naturelles ) là có thể ghi danh vào học YK, hồi thời đó chưa có chương trình thi tuyển vào YK.
Số SV ghi danh nhập học YK ngày càng gia tăng, nên kể từ năm 1966, một kỳ thi tuyển hằng năm được tổ chức để chọn một số nhất định là 200 SV vào năm thứ nhất YK.

Thành phần GS đã có thêm: GS Phạm Biểu Tâm (Ngoại Khoa), GS Nguyễn Hữu (Cơ Thể Học), GS Trịnh Văn Tuất (Hàm Miệng), GS Nguyễn Đình Cát (Nhãn Khoa), GS Auguste Rivoalen (Nội Khoa), GS Montagné (Sản Phụ Khoa), sau đó GS Trần Ngọc Ninh (Chỉnh Trực) từ Pháp về năm 1954, GS Trần Vỹ (Sinh Lý Học) năm 1956, GS Trần Đình Đệ (Sản Phụ Khoa) năm 1956.

Sau một vài năm, các GS Pháp bắt đầu rời khỏi ban giảng huấn. Khởi đầu là việc GS Massias từ nhiệm, và GS Phạm Biểu Tâm lên thay thế năm 1955. GS Phạm Biểu Tâm là vị Khoa Trưởng VN đầu tiên của trường YKSG.

Năm 1962 là năm cuối cùng mà bằng BS YK của trường YKĐHSG còn được công nhận tại Pháp.

Các vị Khoa Trưởng trường YKĐHSG lần lượt như sau:
1946-1950: GS Daléas
1950-1955: GS Charles Massias
1955-1967: GS Phạm Biểu Tâm
1967-1969: GS Ngô Gia Hy
1969-1970: GS Phạm Tấn Tước
1970-1971: GS Đào Hữu Anh
1971-1974: GS Đặng Văn Chiếu
1974-1975: GS Vũ Quí Đài
1975-

Qua sự khuyến khích và giúp đở của các GS Pháp, một số GS YKĐHSG đã qua Pháp tu nghiệp và trở về với bằng Thạc sĩ, từ năm 1960-1963, nhận thấy có: GS Nguyễn Huy Can (Cơ Thể Bệnh Lý), GS Lê Xuân Chất (Huyết Học), GS Đào Đức Hoành (Ung Thư), GS Bùi Quốc Hương (Thần Kinh), GS Nguyễn Ngọc Huy (Tim Mạch), GS Ngô Gia Hy (Niệu Khoa), GS Nguyễn Văn Út (Da Liễu), GS Trần Anh (Nhân Chủng Học). Trước đó có GS Nguyễn Thế Minh (Nội Khoa).

Sau đó năm 1965-1966, từ Mỹ về trường gồm có các vị: GS Đào Hữu Anh (Cơ Thể Bệnh Lý), GS Hoàng Tiến Bảo (Chỉnh Trực), GS Vũ Quí Đài (Vi Trùng Học), GS Nguyễn Khắc Minh (Gây mê), GS Đỗ Thị Nhuận (Vi Trùng Học), GS Bùi Duy Tâm (Sinh Hóa Học), GS Nguyễn Ngọc Giệp (Sản Phụ Khoa).
Tiếp theo, nhận thấy có : BS Trịnh Thị Minh Hà (Nhi Khoa, Mỹ), BS Trần Kiêm Thục (Tiêu Hóa, Pháp), BS Trần Thế Nghiệp (Quang Tuyến, Pháp), BS Liễu Thanh Tâm (Quang Tuyến, Pháp), BS Lê Dư Khương (Giải Phẫu, Đức), BS Phó Bá Đa (Giải Phẫu, Mỹ). Nâng tổng số nhân viên giảng huấn lên 91 người cho niên khóa 1967-1968, với 16 GS thực thụ, 7 GS diễn giảng, 27 giảng sư, và 41 giảng nghiệm viên.

Ngoài công việc giảng dạy, các nhân viên giảng huấn YKĐHSG còn tích cực tham gia khảo cứu. Rất nhiều bài báo cáo khoa học đã được đăng trên các báo y khoa quốc nội và quốc ngoại, những bài này đã được liệt kê trong hai cuốn sách Travaux de Recherche Scientifique I và II của GS Nguyễn Hữu và BS Nguyễn Văn Nguyên. Ngoài ra một tài liệu quí giá khác cũng nên nêu ra là cuốn Bibliographie des Thèses của GS Nguyễn Đức Nguyên, sách ghi lại đầy đủ tất cả các luận án đệ trình tại hai trường YK SG và Hà nội từ khi thành lập tới năm 1972. Trường cũng chủ trương một tờ báo y khoa tên là Acta Medica Vietnamica, xuất bản mỗi tam cá nguyệt, số báo đầu tiên ra mắt vào năm 1957, chủ nhiệm là GS Phạm Biểu Tâm. Báo được tiếp tục xuất bản cho tới năm 1975 thì ngưng hoạt động.

Có thể nói tổng số BS ra trường tại YKSG từ năm 1947 đến 1975 là khoảng 2380 người.
Một con số rất khiêm tốn nhưng đã đóng góp một phần rất lớn cho ngành Y Tế tại Việt Nam.

Tên Trường YKSG hiện tại:
Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
217 Đường Hồng Bàng, Phường 11, Quận 5
Thành Phố Hồ Chí Minh,  VIET NAM
Phone: +84-8-8558411
Fax: +84-8-8552304

Các trường Y khoa tại VN:
1. Can Tho University, CAN THO
2. Centre Univ. de Form. et Perfect. des Prof. de Sante ( C.U.F ), HO CHI MINH CITY
3. Faculty de Medecine de Thai Binh, THAI BINH
4. Hai Phong Medical School, HAI PHONG
5. Ha Noi Medical School, HA NOI
6. Hue University, HUE
7. Institute of Military Medicine, HA DONG
8. Tay Nguyen Universite, BUON ME THUOT
9. Thai Nguyen Medical College, THAI NGUYEN CITY
10. University of Medicine of Ho Chi Minh City, HO CHI MINH CITY.

(Trích http://www.ykhoasaigon.com/)

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Bác Sĩ Huyện - Nguyễn Đình Vân

Các bạn mến,
Đọc bài viết này của anh Nguyễn Đình Vân, cùng lớp với chị Bùi thị Thanh Tùng (chuyện Chia Chuyên Khoa 1980) và chị  Lê thị Minh Đức (SB4?) , BS phòng y tế ĐHYD chuyên cho toa "xuyên tâm liên" thời Y79đ
Đọc thấy dí dõm hay hay nên chia xẻ với các bạn.
Chúc các bạn vui
(và mong đọc đuợc những chuyện "một thời để nhớ" tương tự của các bạn)
------------------------------------------------------------------------------------------------
Tôi về bệnh viện huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang năm 1985. Bệnh viện đóng tại thị trấn Chi Lăng, dưới chân núi Cấm. Ðường từ Châu Ðốc vào Chi Lăng độ 30 cây số, nhưng xe đò chạy khoảng gần 3 tiếng đồng hồ mới tới nơi! Xe nào xe nấy chất hàng chật kín trên mui, chiếm cả ghế hành khách, còn khách thì đu bay cửa trước cửa sau, may là xe chạy ì ạch nên không ai rớt xuống đường. Xe ngừng nửa đường ở thị trấn Nhà Bàng, là trung tâm hành chánh cũ của huyện, trước kia một khu thương mại sầm uất vì có chợ trời biên giới cận với Cam bốt. Nhưng trận giặc Việt nam – Kampuchia 1980 tàn phá Nhà Bàng khá nhiều. Do vậy, huyện ủy Cộng Sản và Ủy ban Nhân dân dời vào Chi Lăng, cận một trung tâm huấn luyện cũ của quân đội Việt nam cộng hoà. Từ Nhà Bàng đi Chi Lăng phải băng qua núi Két, nơi cảnh vật xinh tươi đột biến thành vùng đất khô cằn.

  Từ bến xe Chi Lăng, tôi tìm ra ban Y tế- Thể dục Thể thao không khó vì thị trấn nhỏ xíu như chiếc khăn hỉ mũi. Ðó là một căn phố mái tôn, vách cây, phủ đầy bụi. Bên hông là một khoảng đất trống với một cái bàn dài người ngồi lố nhố. Tôi vào trình diện. Trưởng ban Y tế đi họp trên tỉnh, chỉ có phó ban phụ trách Thể dục Thể thao đang ngồi ở bàn. Lúc đầu tôi tưởng ban đang làm việc, nhưng không, trên bàn thay vì giấy tờ công văn, là một dĩa đậu phọng rang muối, mấy cái ly, và một chai rượu đế to tướng! Anh Tập Phó ban xem giấy tờ tôi xong, liền rót 2 ly rượu đưa cho tôi, một ly gọi là chào sân và một ly chào bàn. Anh dặn uống xong mỗi ly phải lật úp ly xuống, cứ rớt một giọt rượu thì phải uống phạt thêm một ly. Tôi có uống bia và whisky trước đây, nhưng đó là lần đầu tiên tôi uống rượu đế. Thôi thì cũng phải dốc cho cạn. Sau đó tới màn giới thiệu từng người, mổi người mừng tôi một ly. Rượu cay xè, không thấy ngon, nhưng chém chết không say cũng xĩnh. Rượu đế ở Tịnh Biên cất bằng khoai mì nên đục. Muốn trong, người ta bỏ vài giọt thuốc rầy, uống vào nghe thoang thoảng. Sau nầy khi đạt đến "trình độ", tôi chỉ cần khè hơi, nếu ngửi thấy mùi formone là ngưng uống, nếu uống tiếp là cho "chó ăn chè" ngay.

  Sau thủ tục đầu tiên, khi tôi đã hơi ngà, anh Tập cho tôi nằm nghĩ trên môt sạp chiếu, đợi anh trưởng ban về. Chiều tối hôm ấy, anh bác sĩ Chính, trưởng ban Y tế, đi họp về. Anh gọi tôi dậy, cơm nước, rồi dẫn ra quán uống nước sôi chanh đường cho giã rượu. Anh thuộc lớp chuyên tu trường Sài gòn, dễ thương, không thích nói chuyện chính trị, nhưng cũng thích rượu chè như ai. Anh là trưởng ban Y tế kiêm giám đốc bệnh viện huyện. Còn tôi là bác sĩ thứ nhì của huyện, được phong chức "phó giám đốc" bệnh viện. Ðêm ấy tôi ngủ tại ban để sáng hôm sau làm việc.

  Sáng hôm sau anh Chính dẫn tôi đi trình diện huyện ủy, ủy ban rồi xuống bệnh viện. Thật ra bệnh viện chỉ cách ban Y tế độ trăm thước, đi bộ chưa đầy 5 phút. Ðó là một bệnh viện nghèo nhất trong tỉnh An Giang. Bệnh viện lấy một trường tiểu học cũ và "tịch thâu" vài nhà dân ở chung quanh để làm phòng hành chánh, kho thuốc và chổ nhân viên ăn ở. Bệnh viện không có hàng rào, trâu bò chó ngựa qua lại đều được. Phòng bệnh thì giống phòng học, chỉ khác là không có bàn học mà là giường bệnh. Giường bằng sườn sắt, vạt cây, lót chiếu, nằm xuống là bị rệp cắn ngay. Rệp là một "đại nạn" khó lòng tảo thanh trong mấy năm tôi ở bệnh viện. Thôi thì thay chiếu mới, đem giường ra phơi nắng, tạt nước sôi, xịt thuốc rầy… đủ thứ rồi mèo lại hoàn mèo, vì bệnh nhân là nguồn cung cấp rệp. Ðêm đầu tiên tôi ngủ trong bệnh viện bị rệp cắn sưng mình trong khi các nhân viên ngủ tỉnh queo, tôi đoán chắc vì mình là ma mới nên chúng tấn công quá sức. Về sau mấy y sĩ trong bệnh viện mách kế: đặt giường xa vách, giường không chạm vào đâu cả, trừ 4 chân giường chạm đất. Trên 4 chân giường đó, thường xuyên chấm thuốc rầy đậm đặc để triệt tiêu đường tấn công của rệp. Quả hiệu nghiệm!

  Huyện Tịnh Biên lúc ấy có khoảng 70 ngàn dân và thị trấn Chi Lăng có khoảng 5000 dân. Thị trấn đất cát, nhà nhà phải xây hồ chứa nước mưa vì mùa khô các giếng nước đều cạn. Mùa khô nước hiếm, sáng rửa mặt bằng một ly xây chừng mà thôi. Thức dậy nuốt nước miếng nghe cát trong cổ họng. Muốn tắm phải lại nhà dân có bồn nước lớn, hoặc lái xe cứu thương ra Châu Ðốc tắm. Mùa mưa mát mẽ khí hậu dễ chịu, nhưng sốt rét dữ hơn. Ổ sốt rét nằm trong núi Cấm. Thị trấn không có điện công cộng, không có nước máy, hệ thống cống thô sơ lộ trên mặt đất. Ngoài huyện ủy, ủy ban, cửa hàng ăn uống và một vài nhà dân có máy điện riêng, hầu hết dùng bình ắc quy để thấp đèn. Bệnh viện có máy phát điện nhưng hư lên hư xuống, ủy ban không chịu sửa, không mua máy mới, nên phải thắp đèn dầu. Trong 3 năm tôi ở đó, tổng cộng số đêm có điện khoảng chưa đầy 6 tháng.

  Bệnh viện huyện Tịnh Biên giấy tờ chính thức là 50 giường bệnh, nhưng số giường thực thụ chưa tới 20, chủ yếu là phòng cấp cứu và Phòng sanh- Kế hoạch gia đình. Nhân viên có hơn 50, hơn 30 mạng là y sĩ. Y tá có 4, 1 tài xế, 1 hộ lý. Số còn lại là dược tá, kế toán, hành chánh. Thiệt giống quân đội của các nước Nam Mỹ thời xưa, số tá nhiều hơn số lính! Anh Chính, mang tiếng giám đốc bệnh viện, nhưng lúc nào cũng trên phòng Y tế, giao tất cả chuyện điều trị cho tôi. Bệnh viện có một đảng viên duy nhất là y sĩ sản, làm phó giám đốc chính trị. Bà nầy cách mạng gốc nhưng không cự nổi đám con ông cháu cha trong bệnh viện. Vì trong đám y sĩ, có gần mươi mạng là con, dâu , rể của bí thư, huyện ủy, chủ tịch, ủy ban… Ðám y sĩ trẻ nầy tốt nghiệp trường trung học y tế Long Xuyên, được các SBCK khoá 1, 2, 3 dạy dỗ nên rất lễ phép, gọi tôi bằng thầy. Còn đám y sĩ lớn và nhân viên khác thì gọi tôi là "bác" (chữ tắt của bác sĩ). Còn đám thiệt thân thì gọi tôi là anh. Tất cả y sĩ sau 2 năm làm việc đều mong được đề cử đi học bác sĩ chuyên tu, lẽ dĩ nhiên đám con cháu cán bộ, cán cuốc được ưu thế hơn.

  Tệ nạn lớn nhất trong huyện và tỉnh là nạn uống rượu. Có thể nói ngày nào tôi ở Tịnh Biên đều có nhậu. Thôi thì ban Y tế (sau đổi tên thành phòng Y tế), công an, ngân hàng, phòng giáo dục, phòng tài chánh, đài phát thanh, trường quân chính, rồi đám giỗ, đám ma, đám cưới v.v… Mà không nhậu không được, ai không nhậu sẽ bị tẩy chay, không sao liên hệ tốt với ban, ngành, đoàn thể được. Tốt nhất là vào bàn nhậu rai rai rồi giả bộ say, rồi được tha về. Tệ nạn nhậu phát triển đến nỗi trên tỉnh phải ra thông báo cấm cán bộ uống rượu trên 18 độ. Mọi người kháo nhau uống 1 "độ" là say đủ chết rồi, cần gì uống tới 18 "độ"! Mấy năm ở Tịnh Biên, tôi từ một người không biết rượu đế là gì thành một tay uống cũng kha khá. Nhân một dịp ra Châu đốc, tôi cùng Hoa Nghĩa Hiệp, Chung Quốc Cường, Nguyễn Việt Dũng cưa một chai Johny Người-Đi-Bộ nhãn đỏ, rót chia đều mỗi đứa một phần tư. Chắc là rượu giả, đêm ấy 3 anh kia, người thì ói mửa, người thì nhức đầu, còn một anh thì đi re re suốt đêm. Phần tôi thì ngủ tỉnh queo tới sáng!

  Công việc ở bệnh viện nặng về phần quản lý hơn là chuyên môn. Các y sĩ ở phòng khám và phòng cấp cứu nhận bệnh, có gì thắc mắc thì chạy đi hỏi tôi. Bệnh nặng thì cho xe chở ra Châu Đốc, còn bệnh nhẹ thì cho về nhà nằm. Ít ai chịu ở bệnh phòng vì không có điện, không có nước, không có cầu tiêu, lại có rệp. Thật ra bệnh viện có 3 cầu vệ sinh cho bệnh nhân nhưng thường xuyên bị tắc nghẹt vì người ta cứ bỏ giấy "nhật trình" vô cầu. Nhân viên được 2 cầu, có khóa. Tuy vậy cầu cũng bị nghẹt hoài vì thiên hạ chạy vô xin đi. Đặc biệt trụ sở huyện ủy và là nhà ở của bí thư không có cầu tiêu. Ai muốn đi thì lấy xẽng ra vườn làm nhiệm vụ. Đi cầu khó vậy đó, nên đi tiểu khỏi phải nói. Tôi mắc bệnh tiểu đường ngay lúc đến Tịnh Biên.

  Cạnh bệnh viện là đội Vệ sinh Phòng dịch. Đội có hai nhiệm vụ chính là phun thuốc diệt muỗi trừ sốt rét và chích ngừa. Trưởng đội đi học chuyên tu bác sĩ 3 năm mới về. Phó đội là anh Bảy Vĩnh, sĩ quan trợ y của quân đội VNCH cũ. Anh Vĩnh rất tháo vát và vui tính. Anh hay rủ tôi đi xem phòng chống dịch. Có lần anh rủ tôi đến nhà máy nước đá để lãnh nước đá về bảo quản thuốc chích ngừa. Giám đốc nhà máy nước đá là một người gốc Hoa, trước kia là chủ thật sự của nhà máy. Tôi có thắc mắc tại sao ông nầy vẫn "bám trụ" sau vụ đánh tư sản mại bản, anh Bảy Vĩnh cho biết vì ông có gốc gác lâu đời với đám nằm vùng. Sở dĩ tôi nhớ ông nầy vì ông có tên rất đẹp là Bành Hán Tiên, nhưng muốn chọc cười, anh Bảy gọi ông là Bành Háng Tiên!

  Thỉnh thoảng có mấy anh ở bệnh viện Long Xuyên về Tịnh Biên kiểm tra như anh Khương Trọng Sửu (SBCK khóa 1), tôi dẫn lên núi Cấm chơi. Đậu xe gắn máy dưới chân núi, chúng tôi và một vài y sĩ theo đường mòn lên chùa trên đỉnh núi. Đường đi độ khoảng mươi cây số nhưng rất dốc, phải nghỉ chân 2-3 lần. Dọc đường đi rải rác có mấy phụ nữ lớn tuổi đi hành hương. Bà nào bà nấy thở phì phò nhưng không dám than mệt vì sợ "cõi trên" quở. Gặp ai chúng tôi đều hỏi "Khỏe không bác?" Các bà đều khều khào trả lời "Khỏe! Khỏe!" Lên đến đỉnh có thể thấy núi Tượng và đất Cam bốt. Địa thế cao và không khí lạnh giúp núi Cấm làm chổ trồng trái su (chou), địa điểm thứ hai ở miền Nam ngoài Đà Lạt sản xuất được su. Chúng tôi vòng vòng quanh chùa, tìm chổ thanh vắng, trải đồ ăn, vài chai rượu (không thể thiếu được nếu gọi là dân Tịnh Biên), rồi quay đầu gà. Đầu gà quay trúng ai thì người đó phải uống một ly, thiệt là unfair! Nhậu xong, trên đường xuống núi, chúng tôi băng qua vườn cây sầu riêng. Cây sầu riêng rất cao và người ta bảo rằng trái sầu riêng chỉ rụng về đêm. Do đó phải đội nón sắt nếu muốn đi qua vườn sầu riêng ban đêm. (Điều đó tôi không kiểm chứng được). Một điều tôi học được thêm là đi xuống, tuy nhanh hơn, nhưng khó hơn đi lên nhiều. Chúng tôi hầu như phải nhảy liên tục, nếu ngừng lại hoặc đi chậm lại là có thể té dập mặt ngay. Về đến bệnh viện trời sập tối nhưng ai nấy còn khoẻ lắm, anh Sửu mời tôi và đám y sĩ đi uống bia thứ thiệt (thứ tôi không dám rớ tới, lâu nay chỉ uống toàn bia trái cây). Sáng hôm sau anh về Long Xuyên, còn tôi phải lết vài ba ngày vì hai chân đau và mỏi đừ. Hỏi ra ai đi núi Cấm lần đầu tiên đều bị như vậy hết. Anh Sửu chắc cũng lết một vài ngày.

  Công việc chuyên môn trong bệnh viện không có chi phức tạp. Hầu hết là bệnh nhức đầu (do rượu?), nóng sốt, tiêu chảy, và sốt rét. Con nít thì sốt xuất huyết, nghi ngờ là chở lên Châu Đốc ngay. Nghe nói có một đêm ở bệnh viện Long Xuyên, hơn 20 trẻ chết vì sốt xuất huyết. Tai nạn lớn nhất khi tôi ở Tịnh Biên là vụ nổ đầu đạn làm bị thương 5,6 người. Một phụ nữ bị vừa tràn máu màng phổi cấp tính, thở khò khè đứt hơi khi vô tới phòng cấp cứu. Bệnh viện không có dụng cụ chi hết, tôi phải dùng ống thông tiểu Foley cở lớn nhét vào khoang màng phổi, đầu ống buộc vào bịt ny-lông để "seal off" giống như trong trường dạy. Cô nầy được xe cấp cứu chở ra Châu Đốc, sống. Anh Kiên SBCK1 mổ ca đó, có gởi lời khen tôi xử trí đúng (anh trước làm Ngoại Thần kinh ở Chợ Rẩy, vì đi vượt biên nên bị đuổi, anh được bệnh viện Châu Đốc nhận). Anh chỉ khen suông thôi, còn tôi sau nầy được một chầu nhậu do chồng cô ta đãi.

  Bệnh viện Tịnh Biên sở dĩ tiêu điều, không được chăm sóc là nằm trong "ý đồ" của cán bộ tỉnh và huyện. Họ muốn xin hội Hồng Thập Tự quốc tế xây một bệnh viện lớn ở Nhà Bàng. Mà hội Hồng Thập Tự cũng muốn giúp, vì là địa điểm chiến lược đón làn sóng tị nạn từ Kampuchia sang nếu tình hình biến động. Mấy năm tôi ở đó, các cán bộ tranh cãi hoài về địa điểm xây cất, tới lúc tôi đi rồi chỉ có lễ đặt viên đá đầu tiên! Nhưng chính nhờ chuẩn bị cho bệnh viện mới, tôi được gởi lên Long Xuyên 6 tháng học mổ, quen được nhiều anh ở bệnh viện tỉnh. Lúc đầu tôi đứng phụ, sau đứng chính, mổ được khoảng trăm cái ruột thừa! Anh Hoàng trưởng khoa Ngoại nói đúng, không có ruột thừa nào giống nhau cả, giống như mặt người ta vậy. (Anh đi học tập về, ra đứng ngoài chợ bán thịt, bị công an rượt bắt hoài, về sau mới được cho vào bệnh viện làm).

  Ngoài 3 bạn Hiệp, Cường và Dũng ở Châu Đốc, tôi có đi thăm Phan Văn Xái ở Phú Châu (Tân Châu), nhậu cháo rắn hổ. Tôi gặp Nguyễn văn Đức (phó ban đại diện năm 74-75) vài lần. Đức bị đuổi ra khỏi trường năm 75 vì lý do chánh trị, anh về Phú Châu ở, được một anh bác sĩ đàn anh nâng đỡ, gởi cho đi học lại. Có lần Đức đến nhà tôi ở Sài gòn nhân dịp tôi về thăm vợ con, hai đứa nằm nói "chuyện đời" suốt đêm. Năm 1987, bộ đội Việt Nam từ Kampuchia (giả bộ) rút về, dân vùng biên giới phải đi đào một con kênh mới song song với kinh Vĩnh Tế, chạy dài từ Tri Tôn ra Châu Đốc. Trên công trường hằng ngày có độ hơn 5000 người, tất cả công việc đều làm bằng tay, không có một máy ủi đất nào! Toàn thể dân bệnh viện và phòng Y tế đều đi đào kinh trong 10 ngày, chỉ chừa vài người ở lại. Không phải sáng đi chiều về mà phải ở luôn công trường, đào cả ban đêm vì dân bệnh viện sức yếu tay mềm, mà công việc thì được giao khoán. Đó là lần "oải" nhớ đời, mặc dù tôi được các nam y sĩ phụ lực tận tình. Tôi ngủ trong cảnh màn trời chiếu đất, sợ sốt rét muốn chết. Nhưng may địa điểm công trường rất gió, ít muỗi. Còn nước kinh thì uống không nổi, mặc dầu đã đun sôi nhưng đầy cặn, vị thì mặn và hôi. Về sau toán bệnh viện tìm ra 2 món giải khát "cao cấp" là dưa hấu và nước thốt nốt. Dưa hấu không ngọt, ăn đở khát. Còn nước thốt nốt thì tuyệt, mặc dầu tôi rất nghi ngờ về mặt vệ sinh. Nước thốt nốt ngót ngót, mùi thơm giống như sirop cây phong (maple) ở Canada. Dân Khmer cất nước cô đặc lại làm đường thốt nốt. Cây thốt nốt thuộc họ cây cọ, có vẽ mạnh mẽ và lớn hơn cây dừa. Cây dừa 5 năm đã có trái, còn cây thốt nốt phải hơn 30 năm! Khmer đỏ có câu: "chỗ nào có cây thốt nốt là chỗ ấy thuộc đất Khmer". Mà xứ Tịnh Biên thì ở đâu cũng có cây thốt nốt.

  Trong bệnh viện tôi cũng có vài y sĩ người Miên, có mời tôi về nhà nhậu chơi, nhưng đãi món mắm bò hóc thì tôi chịu thua, tôi thích món cá lóc nướng trui dầm nước mắm hơn. Không biết lúc "cáp duồn" ra sao chứ dân Miên nói chung hiền lành, tánh tình cũng như người Việt. Con gái Miên lai Tàu rất đẹp, tục gọi là "đầu gà đít vịt", có nhiều ở thị trấn Tri Tôn. Chùa Miên đẹp, kiến trúc chịu ảnh hưởng Ấn độ, còn chùa Việt thì theo kiểu Trung Hoa. Óc thẩm mỹ dân Miên thì khác hẳn ta. Người Miên thích màu sặc sỡ, không chịu kiểu màu dịu "tone sur tone". Tôi thấy dân Miên ở Tịnh Biên thích màu đỏ đi chung với màu xanh lá mạ. Có lần tôi thấy một anh cỡi xe đạp ngang qua bệnh viện, lúc đi ngang thì chiếc xe đỏ, lúc đi về thì một chiếc xanh lá cây. Hóa ra thì chỉ có một chiếc xe đạp thôi, nhưng sơn màu khác bên 2 bên xe!

  Sau 3 năm ở, nhờ bà Hồ Hải, tôi được chấp thuận về làm gây mê bệnh viện Chợ Rẩy, có ông Trịnh Kim Ảnh ký tên đàng hoàng. Giấy tờ chuyển từ huyện lên tỉnh, giám đốc sở Y tế An Giang phê "không chở cũi về rừng!", bắt tôi làm phòng mổ bệnh viện Long Xuyên. Thiệt là phép vua thua lệ làng. Thế là tôi đổi về Long Xuyên, làm bác sĩ tỉnh, mở sang một "bước ngoặt" mới. Chuyện bác sĩ huyện đến đây chấm dứt. Còn chuyện bác sĩ tỉnh để hẹn khi khác.

  Đêm cuối cùng ở huyện, bệnh viện và phòng y tế đãi tôi một buổi tiệc tiển. Ai nấy cũng đòi uống với tôi một ly rượu đế, kể cả các cô y sĩ. Tôi uống thiệt tình không giả bộ say. Tiệc tàn ai nấy đi ngủ nhưng tôi thì thao thức đến sáng, không sao ngủ được. Những kỷ niệm vui buồn chập chờn hiện trong trí nhớ. Tờ mờ sáng xe huyện đến rước chở tôi lên tỉnh. Tôi rời đất khổ buổi sáng đầy sương ấy.

Nguyễn Đình Vân




Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

31 NĂM NHÌN LẠI!

Các bạn nhận ra hết những bạn trong hình không ? và nhìn ra chính mình không ?
Họp mặt lần này hy vọng đông như vậy nhé !

Y79Đ tại núi Bửu Long, Biên Hòa, 1980

Y79Đ, trên bực thềm trường Y 1979



Ngọc Loan, Hông Nga, Mỹ Phương năm 19??

Trước sân trường

Mỹ Phương năm 19??

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

Cuốn Sổ Ký Ức

Các bạn còn nhận ra cuốn sổ này không nhỉ? Có phải bìa vở này là từ thời ấy? Những năm tháng đó mình nhớ nuớc mình hướng nội ghê lắm, nên bây giờ nhìn lại thấy chử "100 Pages Super" mà thấy ngờ ngợ!
Có lẽ ai đó đã làm ngơ,
một trang giấy không một chử việt,
để một con nai...chì
ngơ ngác
đứng...làm thơ.

Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

(Thơ Lưu Trọng Lư)

Lá vàng không có, chỉ có những cây thông trong trí tưởng tượng. Nai cũng không vàng, không ngơ ngác, chỉ thấy nai đen xì như một mẫu... thịt khô.

Bìa vở là thế, nhưng bên trong chất chứa thật nhiều kỷ niệm. Lật trang vở thấy lại những dòng chử mực, những tên tuổi thân quen, những nhu cầu sinh họat của tụi sinh viên chúng mình thời bao cấp. Bạn bè xưa giờ đã tứ tán khắp miền, chỉ còn lại ký ức ngày ấy trong cuốn sổ chung này. Xin tạm trú. Xin mua kính. Xin mua sách. Quốc doanh. Cửa hàng. Công an.  Những chử ký bằng tên bằng mực trên những mảnh giấy khô cằn. Nhân chứng của một thời "thép đả tôi thế đấy"
Mình giử nó đả lâu. Hôm nay xin gởi lại các bạn
 Ngọc Loan









  









Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

Hình Tổ 25 - BV Chợ Quán 1983

Hôm rồi tìm được tấm hình củ, có lẽ chụp năm thứ 4
Người chụp là LÊ HỮU SINH, BV Chợ Quán
Lý do mọi người cười nghiêng ngã là Sinh quên open lens cover.
Thân
Trần Thành Kiên




Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Giấy Phép Nghỉ Hè

Gởi các bạn Viết Thanh, Tấn Lộc, Ánh Tuyết giấy phép nghỉ hè chưa xài, vẫn còn giá trị
Bạn nào muốn về thăm gia đình phải qua hiệu bộ xin giấy nghỉ phép.
Giấy này có thể dùng để mua vé xe giá chính thức, đăng ký tạm trú với gia đình
(Ngọc Loan gởi)




Thứ Hai, 12 tháng 10, 2009

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (tiếp theo)

Hôm nay đang trực trong bệnh viện, mới mổ xong, tranh thủ vô đọc thư của bạn bè:
Nghe Nga nói Ngọ muốn "xìu" luôn, nhưng Nga ơi những chuyện vui thời sinh viên với Ngọ nhiều lúc là chỗ dựa tinh thần để mình đứng vững và vượt qua những giai đoạn khốn khó nhất đó...Ngọ sẽ kể hết phần ở khoa sản cho các bạn, rồi nếu ai không cho kể thì Ngọ sẽ thôi viết nha:
Một buổi sáng thực tập ở phòng sanh, Lâm Anh Minh được giao nhiệm vụ đỡ một ca, ối phòng to lắm, chị bác sĩ chỉ định: "bấm ối". Nhìn thấy chổ phồng to nhất, Minh chơi kelly vào đó, giật một cái...Xoà..nguyên cái mặt của Minh lãnh trọn toàn bộ nước ối...không biết hắn nghĩ gì mà hắn kéo ngay cái mask xuống và lè lưỡi ra liếm liếm..."không có mùi vị gì"..hắn nói !! Mọi người cười đến muốn tắc thở...
Còn anh chàng Thỵn (không biết có chính xác Thỵn hay ai khác, nếu không đúng Thỵn ráng im lặng dùm mình nha-cảm ơn), sau khi đỡ xong, tới tăng may tầng sinh môn, thời đó thuốc tê ít và tác dụng không ngon. Khi may sản phụ đau quá kẹp cứng đầu của Thỵn luôn...hắn chỉ kịp ú ớ: ơ, ơ, chị buông ra thì tui mới may được chứ...
Một lần phụ Hoàng Lan đỡ, mình đứng bên cạnh sản phụ. Sanh xong sản phụ khoe: "khi đau, có cảm tưởng như sắt thép cũng mềm, em bấm vào thành giường sắt mà cảm tưởng như nó mềm lắm". Mình mới chìa cái tay của mình cho chị ấy coi "thành giường của chị đây nè, hai tay mình đầy đủ năm dấu ngón tay còn lõm xuống"..chị cười cười, xin lỗi.
Vui vậy đó, nên mình nhớ Giáng sinh năm đó chị Hoàng Yến và cả bọn lại chọn khoa sản để đến đón giáng sinh. Sau khi giúp các chị nữ hộ sinh đỡ đẻ, tìm xem đứa bé nào ra đời gần giờ giáng sinh rồi khi đó mới kéo nhau ra Nhà thờ gần bệnh viện..
Chuyện của khoa sản Ngọ nhớ nhiêu đó, còn ai có nhớ chuyện gì khác không, viết lên cho Ngọ đọc với

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Trưa hôm qua nhận được điện thoại của Ngọc Loan, bị mắng vốn là hơi bị nhiều chuyện, nhưng còn thòng thêm một câu là có gì viết nữa đi, nên hôm nay tranh thủ viết tiếp, phòng khi không rảnh lại bị thất hứa.
Kỷ niệm của sinh viên y khoa thì nhiều vô kể, đi tới khoa nào cũng có chuyện, có lẽ đúng với câu "nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò"..Từ chuyện Trương Xuân Tùng sau giờ học Anatomy về nhà mở cặp ra tá hoả vì có một cái "tử cung" xinh xinh mà không biết em nào yêu mến tặng...thì chuyện nhiều nhất vẫn ở khoa sản, bởi ở đó có những nét rất riêng vì chỉ có nữ và một vài bác sĩ nam, còn lại là những chàng sinh viên y khoa dễ thương và quỉ quái. Câu chuyện trong khoa sản cũng rất vô tư một cách đến lạ lùng:
Một sản phụ đau la nhiều quá, chị nữ hộ sinh thản nhiên nói: "sao hồi "sướng" thì không la mà bây giờ la dữ vậy"???
Một sản phụ đau quằn quại nhưng lẩm bẩm: "Mẹ nó, làm đã bây giờ để mình chịu đau một mình, lần sau mà léng phéng vô, bà xách dao bà chặt...cho tiêu luôn"
(xin lỗi các bạn mình sao y bản chính hoàn toàn không thêm bớt câu chữ nào đâu...)
Vào đến phòng sanh thì càng thương hơn, nhìn mấy chị quằn quại, đau đớn... ốm yếu như Lâm Anh Minh mà cũng sẵn sàng ẳm lên bàn sanh dùm..(mặc dù ông chồng đứng hằm hằm ngoài của sổ), và mình cũng thắc mắc là không biết có phải vì qua khoa sản thương chị em quá mà sau này các anh chàng y khoa đều có nhiều bồ không vậy...(nếu đúng vậy thì chị em cũng thông cảm nha).
Được làm "bà mụ" cũng chứa đầy những niềm vui, cười ra nước mắt: Sau hai tuần đi trực, mình được đỡ ca sanh đầu tiên trong một đêm đẹp trời và hơi bị trể. Mấy cô nữ hộ sinh chơi mình nên khi mình đang đỡ thì các cô trốn mất, cũng nhanh chóng mẹ tròn con vuông, cắt rốn, lấy nhau đầy đủ nhưng còn lại vấn đề cuối cùng lại là vấn đề oái oăm nhất: Băng lại cho sản phụ, chị đưa cho mình một miếng dài khoảng 20cm, ngang khoảng 6cm và dày khoảng 2cm với hai sợi dây hai đầu (không phải như kotex, diana...nhỏ nhắn dễ thương như hiện nay...). Lại thắc mắc không biết phụ nữ hồi đó sao xài miếng bự quá vậy??? Thật khó cho mình:  Mình cầm lên xoay tới xoay lui, toát cả mồ hôi vì không biết là nên để ngang hay để dọc, loay quay mãi. Ơn trời! Chị sản phụ dường như hiểu ý nên gọi: Bs ơi đưa đây em làm cho....và ca đỡ thành công tốt đẹp.
Viết dài quá rồi, xin tạm ngưng tại đây..
Ai muốn biết chuyện khác hay hơn xin xem hồi sau sẽ có....Chúc các bạn week-end vui vẻ!!!


Hình Xưa

Gởi các bạn hai tấm hình thời bao cấp. Một tấm chụp bên cạnh đại giảng đường. Tấm kia các người đẹp Y79Đ chụp ở đâu, ai còn nhớ?

Ngọc Loan gởi

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2009

Chuyện Ngọ Kể....

Hưng ơi, không phải chỉ nhớ nồi chè thưng không đâu, mà còn nhiều thứ để nhớ lắm. Mà cũng kỳ thật không biết có phải tại các cô nhà ta chỉ biết nấu chè thưng không thôi (xin lỗi vì dám nói xấu chị em nha...) hay tại tiêu chuẩn có đường, có đậu mà bữa trực trường nào cũng được ngồi với nhau bên bếp lửa, nói chuyện văn thơ và được húp chén chè thưng vừa thơm vừa ngọt....Lại không biết mình có tâm hồn ăn uống không mà nhớ nhiều lại về ăn: từ nồi hủ tiếu của Thu Ba, xôi chè của Hoàng Lan, thịt vịt của Ngọc Loan,trái khổ qua của Lộc, con cá nục của Tùng, ly sữa dê của Chất...và mình thường an uỷ mình đó là hương vị của một thời sinh viên mà không bao giờ còn quay lại được nữa...
Lại nói về kỷ niệm, mình sẽ kể các bạn nghe về một kỷ niệm với Mỹ Phương (không biết Phương có còn nhớ). Hè năm đó đi công tác thực tế về sinh đẻ có kế hoạch tại Hóc Môn: Thỵn thì dành đi với Ngọc Loan, Đinh Viết Thanh thì đòi đi với Hoang Lan..thành ra mình may mắn được đi với Mỹ Phương, hai đứa sung lắm tới nhà nào cũng thao thao làm thuyết khách về sinh đẻ có kế hoạch. Mấy nhà đầu tiên mọi người nghe và gật gù không biết họ đồng ý hay không nhưng cũng khoái, không biết đến nhà thứ 5, thứ 6 gì đó nghe một bà xồn xồn nói: Ôi đẻ cho hết trứng đi cô chú ơi, bỏ uổng quá!!! Nghe cũng dội nhưng cố gắng đi thêm một nhà nữa, gặp một cô cũng còn trẻ, cô nhìn hai đứa rồi hỏi: Cô chú có gia đình chưa? Tụi mình trả lời là chưa có; Cổ nói: Cô chú chưa có gia đình thì làm sao biết được, về thử đi, đã lắm cô chú ơi !!!!!....Hình như cả hai đứa đều á khẩu...
Trên đường về cứ muốn hỏi Mỹ Phương mà đến bây giờ vẫn chưa dám hỏi ????...
Một chút góp vui cho mọi người, có ai giận thì lên tiếng nha....

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2009

Chao cac ban

 Chào các bạn, Mình là Nguyễn Đức Dũng, tổ 27Y79Đ đây. Hồi đó giới giang hồ trong môn phái "Kim Dung" thường gọi mình Đạt ma tổ sư vì mỗi khi các bạn tranh luận về chiêu thức trong kiếm hiệp thì hay gọi mình ra làm trọng tài, vậy đó. Hiện mình đang làm ở BV Phạm Ngọc Thạch, làm từ hồi ra trường đến giờ.

Bạn nào lập ra cái blog này hay quá vậy? Lập hồi nào vậy? Hình như là bạn Nguyễn Phan Hưng phải không? Tui nhớ là bạn học đến năm thứ 2 hay 3 gì đó thì biến mất, hồi đó dĩ nhiên là ai cũng biết bạn đi đâu rồi.Tui mới được Kim Dung tổ 25 thông báo cho biết có cái blog này nên lên xem liền nhưng mãi đến giờ mới gởi bài lên được, bận quá. Kim Dung nói tui tuyệt tích giang hồ mấy chục năm nay. Lúc trước Kim Dung có rủ đi họp ở đường Sương Nguyệt Anh mà không đi được, có đề nghị lớp mình nên làm trang web để dù ai ở đâu cũng có thể giao lưu gặp gỡ được. Hóa ra ý tưởng này các bạn đã thực hiện rồi. Internet hay thật, đúng là thế giới phẳng.

Tui thấy nhiều bạn gởi bài lên đọc rất hay nhưng muốn tìm xem tác giả là ai mà không thấy, sao các bạn không đề tên tác giả ở cuối bài nhỉ.

Thời gian trôi nhanh thật, đời người quả như một giấc mơ. Mới đó mà đã 30 năm rồi. Hồi còn nhỏ đi học cô giáo nói "thời giờ ngựa chạy tên bay" mà mình không tin, cứ mong sao mau đến chủ nhật để được nghỉ, trách thời gian đi chậm quá.

Mình cũng còn nhớ như in ngày đầu tiên vào làm lễ nhập học nhưng không nhớ nỗi ngày tháng như các bạn, các bạn hay thật. Cũng hồi hộp và có chút hãnh diện. May mắn đậu trường y mà. Cho đến bây giờ trường y cũng vẫn là một trong những trường khó thi đậu vào nhất. Bây giờ cho mình thi lại chắc chắn rớt, hi hi.

Hồi đó có lẽ mình là một trong những người đi vào bộ môn Anatomy sớm nhất đó. Vì ngay khi làm lễ nhập học và làm các thủ tục xong thì mình đã tìm đến bộ môn Anatomy để tò mò xem các xác chết. Sao kỳ vậy hả? Tại vì ba mình là bác sĩ, mình thấy trong các bức hình ông chụp hồi còn đi học có thực tập bên các xác chết nên tò mò vậy thôi. Bây giờ thì hết tò mò rồi, thấy nhiều quá rồi. Ừ, biết đâu mình cũng có phần tạo ra dân số cho cõi dưới đấy, nói ra thấy ngại quá. Biết sao được! Mấy thầy cũng nói sau lưng các bác sĩ là cả một nghĩa địa mà. Cố gắng hạn chế bằng cách học hỏi thôi.

Có bạn nào trên blog nhắc tới cái bảng hiệu trường mình đeo trên áo hả? Mình cũng nhớ một chuyện về nó đó. Nhớ Thu Ba có lần kể cùng Hoàng Lan đi qua đại học sư phạm tìm bạn hay sao đó mà quên không tháo bảng hiệu ra làm cho nhiều sinh viên bên đó có cái nhìn không thiện cảm lắm, ghen tị chăng? Hồi đó có câu "nhấy y, nhì dược, tạm được bách khoa, sư phạm thông qua…" mà. Sau đó Thu Ba cũng thấy ngại nên không đeo bảng hiệu ra ngoài nữa thì phải.

Mấy bạn họp mặt và rủ nhau đi làm từ thiện vui quá! Cũng có chị Yến rủ mà mình bận quá không đi được, mình chỉ rảnh ngày chủ nhật thôi (nếu không dính ca trực), tiếc và thấy ngại quá, bạn cũ nhớ đến rủ mà không dự được. Mỗi ngày mình phải cày cuốc đến hơn 9PM lận, xong rồi thì đã thấy lơ mơ. Khi nào có họp chủ nhật rủ mình lại với. Đừng giận nha.

Nhóm từ thiện của các bạn có hoạt động thường xuyên không, chỉ đi Vĩnh Long thôi hả? Các bạn đi đến mấy ngày lận, chắc mình không đi theo được nhưng mình có thể đóng góp được, thấy có Nhữ Hoa và Ngọc Trinh cũng có gởi

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2009

Ngày Này 30 Năm Trước (repost)

Sáng ngày 3 tháng 10, 1979, mình hớn hở đạp xe từ quận 3 tới trường DHYD. Có lẻ cảm giác lúc đó sung sướng lắm các bạn ạ. Thỉnh thỏang mình vẫn nghĩ về giây phút đó, sao mà thấy hảnh diện quá chừng.

Mình ôn lại kỷ niệm khó quên đó chia xẻ cùng các bạn nhé.

Sáng hôm ấy thứ 3 ngày 3 tháng 10, 1979, mình nhớ trời dịu lắm, không nắng cũng không mưa. Trời như thế hay tại trí óc tưởng tượng mình nhiều lưu luyến nên bây giớ cảm thấy thế? Tối hôm qua giấc ngũ chập chờn, chỉ mong trời sáng để đến trường "trình diện" theo giấy triệu tập . Thức dậy thật sớm nhưng không hiểu vì sao mình lại không đi ngay. Có lẽ nếu đi sớm quá hóa ra mình cũng nôn nóng hay sao! "trượng phu quân tử, nam nhi chi chí" mà, đây là chuyện "tầm thường"! Phải bình tỉnh, phải tự nhiên như không có gì xảy ra, kẻo mọi người chung quanh cười cho! Không đựơc để lộ những sung sướng tột cùng, không được để lộ ra nét kiêu hảnh nào! Phải đóng vai thật khiêm nhường, thở nhè nhẹ thôi, đừng hồi hộp quá. Chuyện "nhỏ" mà! (Thật ra không nhỏ đâu các bạn ạ. Có giờ mình sẻ lại kể hành trình "gian khổ" để có được ngày hôm ấy.)

Nghĩ như thế mình không" dám" rời khỏi nhà cho tới khi gần giờ hẹn, giấy hẹn 9 giờ sáng thì phải (các bạn ai còn mảnh giấy đó cho tụi mình coi với nhé). Mình đạp xe như bay. Từ Tú Xương quẹo trái ra Trương Định, xuôi theo Võ thị Sáu vòng qua công trường Dân Chủ. Phon phon đạp trên 3 Tháng 2. Rẻ qua Nguyễn tri Phương đạp xuống Ngã Sáu, lướt qua nhà thờ cha Tam. Chỉ khỏang khắc nửa là tới rồi! DHYK trong tầm mắt! Bổng dưng thắng xe đạp hư trước trường Hùng Vương. Tự dưng văng mất con ôc thắng không được. Làm sao bây giờ? Loay hoay một hồi không gắn ốc lại đuợc. Sốt ruột quá! Mặt kệ, mình leo lên đạp xe thẳng tới trường, dùng chân với đôi dép "bình trị thiên" làm thắng!

Dắt xe vào nhà xe, chạy như bay vô tìm mọi người trong sân trường. Chẳng có ai ở ngòai cả. Tất cả đả vào DGD rồi, một người ngồi ở bàn gổ đặt trên hành lang nói thế. Mình bẻn lẻn tìm lên DGD đẩy cửa vào, và chóang ngộp trong cảnh DGD rộng lớn, sáng choang đầy người, như một rạp chiếu phim được bật đèn khi phim kết thúc.

Nhưng hôm nay chỉ mới bắt đầu cuốn phim "đời sinh viên" của tụi mình thôi, phải không? Nhiều chuyện dong dài, "cười ra nước mắt" sẻ từ từ trải ra trước mặt của những khuôn mặt non nớt trẻ con mà hôm đó mình nhìn thấy, nhưng cứ tưởng mình đả là người thành công, khuôn mặt một lọai người "hùng" sau chuyến chinh phục trở về!...

Mình khép nép len vào hàng nghế cuối, ngồi xuống dãy cuối. Lặng lẻ theo dõi những lời người nào đó đang thao thao trước tấm bảng đen dài to lớn kéo dài từ đầu này tới đầu nọ của DGD. Mồ hôi vẫn còn rịn ra sau chuyến đạp xe "đua" từ quận 3 tới quận năm, nhưng một cảm giác thật khoan khóai thỏa mản tràn ngập trong lòng, các bạn ạ!

Sau đó ra ngòai nộp giấy tờ. Mình nộp giấy và lảnh tờ biên lai mình để lên đây cho các bạn xem cho vui. Không biết làm sao mình giử đuợc nó tới bây giờ. Bao nhiêu biến cố trong đời, tấm giấy đó có nghĩa lý gì mà mình vẫn giử nhĩ?...có lẻ tại mình trân trọng những giây phút hiếm có ấy nên không dám làm mất chăng, hay tại mình chẳng còn cái gì hay hơn thế nửa? Dầu thế nào đi nửa thì ngày hôm ất vẫn là một trong những ngày đáng nhớ của mình, tuy chẳng có gì hay ho để nhớ cả, ngòai cái cảm giác mừng rở hân hoan đã thi đậu vào trường Y Sài Gòn mà cho tới giờ này mình vẫn thấy khoan khóai mỗi khi nghĩ tới, như thể tự mình đả tìm được cả một kho tàng!:)





Và cái huy hiệu này nửa. Hôm ấy mình cầm mân mê trên tay, không dám gắn lên áo vì mắc cở. Đi bộ ra cổng trường, thả bộ một mình lang thang để hưởng cái cảm giác khoan khóai. Liếc nhìn thấy một người cũng đang thả bộ. Hình như có cái gì đó làm hai đứa bối rối, cảm giác bẻn lẻn như một đứa bé vừa có đôi giày mới. Thóang thấy anh chàng có huy hiệu đỏ trên áo, mình lên tinh thần, len lén gắn bảng hiệu lên áo, rồi vội vàng quay trở lại nhà xe. (sau này mình mới biết anh chàng này là Phi Ngọ, tổ trưởng tổ 29 của mình :)


Kể lại cho các bạn nghe. Các bạn có dịp cũng kể những chuyện chưa quên ngày xưa, dù chỉ nhớ mang máng, cho tụi mình nghe với nhé
Hưng, tổ 29, Y79Đ

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

Nha Trang Hè 1982 - Hồ Cá Trí Nguyên & Bải Sạn

Thuê tàu qua hồ cá Trí Nguyên từ Cầu Đá

"lênh đênh biển cả"

Hồ cá Trí Nguyên

"ngắm cá"
Hình như đây là nhà hàng quốc doanh thì phải
không có nước hay thức ăn thường

Chỉ có "see food" :)~~

Tắm biển Bải Sạn
Dân Y79 lố nhố phía Bải Sạn